Danh mục

Tìm Kiếm

tin tức

Hoạt động nổi bật

Bạn đang ở : Trang chủ » Tin tức » Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện ĐA 1956
TIN TỨC

Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện ĐA 1956

UBND HUYỆN THUẬN THÀNH                            CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

          TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ                                           Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

     KINH TẾ KỸ THUẬT VÀ THỦ CÔNG

           MỸ NGHỆ TRUYỀN THỐNG 

                   THUẬN THÀNH                                  

                    Số:     11/BC-TCN                                      Thuận Thành, ngày 14 tháng 01 năm 2013 

 

 

BÁO CÁO
Sơ kết 3 năm thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn
 
Thực hiện văn bản số 14/SLĐTBXH-QLDN ngày 07 tháng 01 năm 2013 của sở Lao động - Thương binh Xã hội tỉnh Bắc Ninh về việc sơ kết 3 năm thực hiện đề án 1956 của Chính phủ, đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2010 - 2012;
 
Căn cứ tình hình hoạt động của nhà trường về thực hiện quyết định 1956/QĐ-TTg về đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2010 – 2012;
 
Trường Trung cấp Nghề Kinh tế Kỹ thuật và Thủ công Mỹ nghệ Truyền Thống Thuận Thành xin báo cáo kết quả thực hiện đề án trên cơ sở một số nội dung sau:
 
I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỀ ÁN VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
 
1. Tình hình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ và giải pháp đào tạo nghề theo quyết định 1956/QĐ-TTg về dạy nghề cho lao động nông thôn
 
1.1. Trường Trung cấp Nghề Kinh tế Kỹ thuật và Thủ công Mỹ nghệ Truyền Thống Thuận Thành là một trong 7 trường được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chọn là trường trọng điểm thực hiện đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ. Ngay từ đầu, nhà trường đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm để chỉ đạo thực hiện như sau:
 
+ Đào tạo nghề gắn với chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và các vùng sản xuất theo quy hoạch
+ Đào tạo nghề gắn với qui hoạch và phát triển các cụm và khu công nghiệp
+ Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm và khôi phục và phát triển nghề truyền thống trong các làng có nghề truyền thống
Đồng thời xây dựng thực hiện tiêu chí mô hình nông thôn mới ở các xã, thị trấn.
 
1.2. Từ nhiệm vụ trên nhà trường chủ động xây dựng các nội dung, giải pháp nhằm tham mưu đề xuất cho các cấp một số nội dung sau:
 
- Xây dựng kế hoạch đào tạo nghề giai đoạn 2010 – 2015: Nhà trường chủ động tổ chức tuyên truyền, tư vấn, rà soát, khảo sát tới từng đối tượng lao động nông thôn trên địa bàn, từ đó tổng hợp nhu cầu học nghề của các đối tượng lao động và dự kiến kế hoạch đào tạo cho cả giai đoạn 2010 – 2015; Phối hợp với phòng LĐTB&XH cấp huyện tham mưu kiện toàn Ban chỉ đạo ĐTN&GQVL các cấp, từ đó xây dựng chương trình phối hợp với các ngành và các tổ chức đoàn thể nhằm cụ thể hóa chương trình phối hợp, giúp công tác quản lí, tuyển sinh, mở lớp đạt hiệu quả cao.
 
Cùng với việc làm trên nhà trường chủ động kiện toàn củng cố cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo của các ngành nghề, tăng cường sử dụng dụng cụ thực hành cho các lớp học gắn với các điều kiện thuận lợi  ngay tại cơ sở mở lớp; xây dựng nội dung chương trình, tổ chức biên soạn bài giảng, giáo trình, tài liệu, học liệu cho các ngành nghề đào tạo; Hàng năm tổ chức thẩm định lại hệ thống chương trình, chỉnh sửa và bổ sung các ngành nghề mới trên cơ sở kế hoạch đào tạo nghề sao cho phù hợp với đặc thù và nhu cầu lao động của từng địa phương; từ đó chủ động mở rộng qui mô đào tạo các ngành nghề, năm 2010 nhà trường có 05 nghề được sở lao động Bắc Ninh phê duyệt cho phép đào tạo. Đến năm 2012, nhà trường đã được Sở LĐTB&XH tỉnh Bắc Ninh phê duyệt 21 nghề đào tạo.
 
- Trên cơ sở đó nhà trường đã chủ động thường xuyên tham mưu kiện toàn và tăng cường đội ngũ giáo viên cơ hữu phục vụ cho hoạt động dạy nghề của nhà trường. Năm 2010, nhà trường có 09 giáo viên cơ hữu, đến năm 2012 có 18 cán bộ giáo viên cơ hữu. Ngoài ra hàng năm nhà trường liên kết với các trường Cao đẳng trong hệ thống dạy nghề hợp đồng giáo viên thỉnh đồng thời kết hợp với các chuyên gia, các nhà khoa học, các nghệ nhân, thợ giỏi tham gia tư vấn về nội dung chương trình, bài giảng, giáo trình,…và dạy thỉnh giảng các lớp nghề cho lao động nông thôn.
 
2. Kết quả đạt được:
 
2.1. Tuyển sinh mở lớp
 
- Tổ chức tuyên truyền tới các lao động nông thôn các nội dung của đề án 1956/QĐ-TTg của Chính phủ bằng nhiều hình thức như qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua website,…, giúp cho lao động nông thôn nắm bắt được cơ chế, chính sách ưu đãi cho lao động khi tham gia học nghề
 
- Từ hoạt động trên, năm 2010 nhà trường đã tuyển sinh mở 52 lớp sơ cấp trong đó tập trung các nghề Chăn nuôi thú y, kĩ thuật trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, tin học, hàn, điện công nghiệp, điện dân dụng và 02 lớp trung cấp nghề chuyên ngành kế toán với tổng số 60 học viên; liên kết đào tạo 01 lớp trình độ đại học với 45 học viên; 01 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước cho cán bộ công chức, viên chức trong huyện;
 
- Năm 2011 – 2012 nhà trường tuyển sinh mở 47 lớp sơ cấp nghề tập trung ở các ngành nghề nêu trên và mở rộng thêm các nghề mới như: cơ điện nông thôn; kỹ thuật điêu khắc gỗ, Đúc dát đồng, Kỹ thuật làm đậu,…tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thuận Thành;
 
Kết quả đào tạo trong 03 năm nhà trường đã tuyển sinh mở 99 lớp sơ cấp nghề với 2.970 lao động, trong đó nữ 1.584 lao động (chiếm 53.3%), tỷ lệ lao động trong độ tuổi 18 đến 35 là 1620 lao động (chiếm 54.6%). Qua số liệu cho thấy lao động trẻ tham gia học nghề trong giai đoạn 2010 – 2012 ngày càng tăng; Cơ cấu ngành nghề đào tạo được mở rộng. Nhóm nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp chiếm 44%, nhóm nghề thuộc lĩnh vực cơ điện – công nghiệp và kinh tế chiếm 46.5%, nhóm nghề thuộc lĩnh vực nghề truyền thống chiếm 7.1%;
 
2.2. Chất lượng đào tạo
 
Trong 03 năm đào tạo của nhà trường, chất lượng đào tạo ngày một nâng cao. Năm 2010 tỷ lệ khá, giỏi đạt 72,1%; năm 2012 đạt 87% tăng so với năm 2010 là 15%. Bước đầu và từng bước tạo dược niềm tin cho lao động nói chung trong đó lao động nông thôn nói riêng.
 
Qua quá trình đào tạo các chuyên ngành nhà trường chú trọng nâng cao kỹ năng nghề và định hướng lập nghiệp cho 2.970 lao động nông thôn. Kết quả số lao động có việc làm chiếm 80%; số lao động tham gia mở rộng qui mô sản xuất, phát triển nghề đạt 72 lao động chiếm 2.4%; Số lao động tham gia khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống chiếm  7.1%, giúp các lao động tham gia học nghề thoát nghèo (120 lao động) chiếm 4%, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế gia đình góp phần đảm bảo an ninh chính trị xã hội địa phương.
 
3. Hiệu quả sau đào tạo:
 
3.1. Công tác chỉ đạo, lãnh đạo:
 
- Trong quá trình thực hiện đề án 1956, nhà trường đã góp phần tạo chuyển biến nhận thức trong các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Qua đó cơ bản các xã, thị trấn đã đưa công tác dạy nghề với giải quyết việc làm vào Nghị quyết của Đảng bộ, Chi bộ chương trình công tác tháng, quý, năm.
 
- Trong công tác phối hợp với các ngành, đoàn thể, các cấp chính quyền cơ sở từng bước thực hiện có hiệu quả và đi vào nề nếp.
 
3.2. Hiệu quả kinh tế:
 
- Tạo nguồn nhân lực góp phần cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở từng cơ sở xã, thị trấn, giúp tạo ra vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh cho khu vực nông nghiệp – công nghiệp;
 
- Thu nhập bình quân của lao động thuộc các nhóm nghề: Nhóm nghề nông nghiệp đạt 2-2.5 triệu đồng/01 tháng, Nhóm nghề lĩnh vực cơ điện – công nghiệp và kinh tế đạt 3-3.5 triệu đồng/01 tháng, Nhóm nghề truyền thống đạt 4.5-5.5 triệu đồng/01 tháng, góp phần làm giàu kinh tế gia đình và toàn xã hội.
 
- Thông qua việc thực hiện kế hoạch đào tạo nghề hàng năm, các đối tượng lao động nông thôn, nhất là nông dân đã quan tâm hơn đến học nghề, tạo việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của người lao động cũng như xu thế phát triển chung của cả cộng đồng.
 
3.3. Hiệu quả xã hội:
 
- Thực hiện tốt đề án 1956 góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức xã hội nhận thức của lao động nông thôn về dạy nghề và giải quyết việc làm, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần tạo ra một xã hội học tập, tạo ra tiền đề quan trọng trong việc hình thành ý thức và thói quen của lao động nông thôn dành ưu tiên cho việc học nghề, tạo việc làm, góp phần tạo và giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động ở khu vực xã, thị trấn nơi có chuyển đổi đất, thực hiện có hiệu quả trong công tác xóa đói giảm nghèo ở cơ sở, tạo cho ổn định an ninh thôn xã tốt hơn.
 
II. ĐÁNH GIÁ CHUNG:
 
1. Ưu điểm:
 
- Nhà trường đã từng bước thực hiện thành công mô hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ, các ngành nghề đào tạo ngày càng được nhân rộng; Số lượng và chất lượng lao động nông thôn được học nghề ngày càng tăng;
 
- Một bộ phận lao động nông thôn sau khi làm nghề đã có việc làm ổn định tại các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ hoặc chuyển nghề, đặc biệt tham gia khôi phục phát triển các nghề truyền thống, tạo thu nhập bền vững;
 
- Hình thành cho lao động và xã hội nhiều mô hình sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, truyền thống có hiệu quả;
 
- Từng bước có thu nhập khá góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng mô hình nông thôn mới;
 
2. Tồn tại:
 
- Công tác chỉ đạo của Ban chỉ đạo nghề, các cấp chính quyền cơ sở,…còn nặng tính hình thức, mang tính chất hành chính sự vụ;
 
- Tỷ lệ lao động nông thôn tham gia học nghề có sự chênh lệch giữa thị trấn với các xã; Lao động tại các làng nghề truyền thống nhận thức về Đề án 1956 của Chính phủ còn nhiều hạn chế, chưa nhận rõ nghĩa vụ và trách nhiệm với nghề do cha ông để lại, chưa thực sự quan tâm đến học nghề để khôi phục và phát triển nghề tại các làng nghề;
 
- Việc thực hiện đào tạo nghề theo đề án 1956 là một quá trình lâu dài và đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải vào cuộc; tuy nhiên, nhận thức về vấn đề này của một số ban chỉ đạo nghề, các ngành, các đoàn thể, cấp ủy chính quyền các cơ sở còn nhiều hạn chế;
 
- Thực hiện bổ sung hoạt động đăng ký dạy nghề với các ngành nghề đào tạo của nhà trường còn chậm được phê duyệt, chưa kịp thời gây khó khăn cho việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo vùng sản xuất;
 
- Kinh phí đầu tư cơ sở vật chất cho công tác đào tạo nghề, kiện toàn đội ngũ cán bộ, giáo viên dạy nghề, công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ còn chậm, việc tổ chức cho các cơ sở dạy nghề đi thăm các mô hình đào tạo nghề mới trong nước và quốc tế,…còn chưa nhiều; việc triển khai công tác này còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng ngành kinh tế; thiếu định hướng dài hạn, chưa gắn với qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương; chưa gắn chắc với qui hoạch nông thôn mới;
 
- Tư vấn, học nghề, hướng nghiệp và giới thiệu việc làm chưa giúp được nhiều cho người học chọn nghề phù hợp với điều kiện, khả năng của mình trước khi học nghề.
 
3. Nguyên nhân tồn tại:
 
- Tồn tại trên đây chủ yếu là do nhận thức của một số ít cấp ủy đảng chính quyền cơ sở về chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn và vai trò của công tác dạy nghề cho lao động nông thôn còn chưa đầy đủ;
 
- Công tác chỉ đạo điều hành một số Ban chỉ đạo nghề cơ sở còn mang tính hình thức, văn bản là chủ yếu, thiếu định tính và định lượng cụ thể cho hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn;
 
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương còn chưa xác định rõ mục tiêu, giải pháp cụ thể cho công tác này, chưa quan tâm đầy đủ, đúng mức, thiếu chính sách cụ thể để huy động các nguồn lực xã hội phục vụ cho công tác đào tạo nghề;
 
- Việc thực hiện các nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, nguồn kinh phí cho hoạt động dạy nghề, nguồn vốn cho hoạt động sau đào tạo nghề, việc bao tiêu hỗ trợ các sản phẩm nghề sau sản xuất,…còn nhiều hạn chế
 
- Công tác tổ chức thực hiện các kế hoạch đào tạo nghề còn chưa đồng bộ, còn giao trách nhiệm chính cho một số cán bộ chuyên trách hoặc tự các cơ sở dạy nghề phải đơn phương thực hiện nên hiệu quả chưa cao.
 
4. Kiến nghị đề xuất
 
- Nhằm thực hiện tốt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, hoàn thành mục tiêu của đề án cần quan tâm một số nội dung sau:
 
- Công tác chỉ đạo điều hành của Ban chỉ đạo đào tạo nghề các cấp cần được kiện toàn thường xuyên, có nội dung chương trình hành động rõ ràng trong từng tháng, từng quí, từng năm giúp cho công tác thực hiện kế hoạch đi vào nề nếp và hiệu quả
 
- Thực hiện phân luồng học sinh; đề nghị sở Lao động thương binh xã hội phối hợp với sở Giáo dục đào tạo có lộ trình và kế hoạch chỉ đạo các cở giáo dục thực hiện việc hướng nghiệp học nghề cho học sinh gắn với học văn hóa trong nhà trường; Có định hướng chỉ đạo việc phân bổ lượng kiến thức văn hóa với trình độ trung cấp nghề tại các trường, trung tâm giáo dục thường xuyên,…tạo tính chủ động cho cơ sở dạy nghề được thuận lợi trong quá trình tham gia phân luồng và hướng nghiệp cho học sinh, khắc phục sự lãng phí về thời gian và tiền của của gia đình cá nhân học sinh và cho toàn xã hội;
 
- Có chương trình phân bổ kinh phí cụ thể cho hoạt động của Ban chỉ đạo đào tạo nghề các cấp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên ban chỉ đạo hoạt động;
 
- Có qui hoạch và đầu tư cở sở vật chất nhất là diện tích xây dựng cơ sở vật chất nhà xưởng lớp học, xây dựng nội dung chương trình, kiện toàn bổ sung đội ngũ,…giúp thực hiện tốt hoạt động dạy nghề cho lao động gắn với nhiều loại hình kinh tế;
 
- Nguồn kinh phí hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn của đề án cần sự chỉ đạo cụ thể, chi tiết, đồng bộ giữa các ngành: Sở tài chính với Sở lao động Thương binh Xã hội và các sở khác,…giúp cho thực hiện đào tạo nghề đúng với định mức và chế độ qui định của nhà nước; Khắc phục tình trạng không thống nhất thiếu đồng bộ trong thực hiện quyết toán, tạo cho cơ sở dạy nghề chủ động hơn trong quá trình đào tạo và mở lớp;  
 
- Thường xuyên tổ chức các hoạt động đăng tin, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng về công tác đào tạo nghề, tham quan các mô hình dạy nghề trong và ngoài nước, biểu dương các mô hình nghề hiệu quả của các cá nhân và tổ chức đồng thời coi trọng việc kiểm tra, đánh giá việc thực hiện đề án, từ đó trao đổi các thông tin và kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đề án
 
Trên đây là báo cáo sơ kết 03 năm thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo tinh thần quyết định phê duyệt đề án 1956 của Thủ tướng chính phủ tại trường Trung cấp nghề kinh tế kỹ thuật và thủ công mỹ nghệ truyền thống Thuận Thành.
 
Kính mong các cấp quan tâm chỉ đạo tiếp hoạt động thực hiện đề án của nhà trường trong giai đoạn tiếp theo./. 
 
 
 
Nơi nhận: HIỆU TRƯỞNG
- Lãnh đạo Sở LĐTB&XH;    (Đã ký tên)
- Phòng quản lí dạy nghề;     
- Lưu:  VT; Nguyễn Văn Chế
 
 



 



Thông tin mới

Video clip

JW Player goes here

Hỗ Trợ Online

    Yahoo:

    arealman_bn
    Skype:
    My status
    ADMIN
    Hotline:
    02413705192

Hoạt động nổi bật

Thống Kê

  • Tổng số danh mục: 55
  • Tổng trang tin: 162
  • Tổng số truy cập: 110445
  • Tổng số trang xem: 138455